Văn hóa
Cùng với đội ngũ nhà thơ hoạt động chính trị, xã hội vốn sáng tác không phải của nhà văn, nhà thơ chuyên nghiệp, nhưng nhà thơ Lê Đức Thọ đã góp vào nền thơ kháng chiến chống Mỹ không khí thời đại với nhiều bài thơ tập trung trong những tập thơ tiêu biểu, như: Đường ngàn dặm, Nhật ký đường ra tiền tuyến, Thơ Lê Đức Thọ.

Với truyền thống yêu thơ, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã tạo nên cảm hứng lớn lao, có sức cổ vũ mạnh mẽ, lôi cuốn một lực lượng sáng tác đông đảo, hùng hậu tiếp nối nhiều thế hệ. Trên hành trình giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đội ngũ nhà thơ chống Mỹ đã hình thành từ đó. Sinh ra từ máu lửa chiến tranh cách mạng, các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, như Hồ Chí Minh, Sóng Hồng, Tố Hữu, Xuân Thủy, Lê Đức Thọ… dù bận công việc hệ trọng của đất nước vẫn luôn dành thời gian làm thơ, tiếp tục làm thơ và tạo nên sự phong phú, đa dạng cho nền văn học chống Mỹ. Đó là một hiện tượng hiếm thấy trong đời sống văn học nước ta.

Là một chiến sĩ cách mạng yêu thơ, Lê Đức Thọ đến với thơ ngay từ khi bị giam cầm trong các nhà tù của thực dân, đế quốc. Sau này, khi được Đảng, nhân dân tin cậy, giao phó những trọng trách lớn, ông vẫn tiếp tục làm thơ. Lê Đức Thọ làm thơ với hai tư cách: Tư cách một chiến sĩ cách mạng hiểu sâu sắc hơn ai hết sức mạnh văn chương và dùng thơ như một thứ vũ khí đấu tranh cách mạng; tư cách một thi nhân, với ý thức làm phong phú thêm đời sống tâm hồn cho mình.

Quan điểm sáng tác văn chương vì cách mạng, làm vũ khí chiến đấu, nhà văn là chiến sĩ là sự kế thừa quan niệm “văn dĩ tải đạo” truyền thống của cha ông. Xác định văn chương phải phục vụ nhân dân, phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ “chuyên chú ở con người” (Nguyễn Văn Siêu); như khẳng định sức mạnh “Sau lời hịch của Vua Quang Trung, quân reo như sấm, sông núi rung động, trời đất đổi màu…” (Ký sự của Lê Quý Đôn); như phân tích của Ngô Thời Nhậm “Thơ chú trọng đến ngăn chặn điều xấu, bảo tồn điều hay, đó mới là điều đặc sắc của thơ”... Đó là sự tiếp tục quan niệm thơ theo tinh thần: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm-Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà(Nguyễn Đình Chiểu),  “Ba tấc lưỡi vừa gươm vừa súng-Một ngòi lông vừa trống vừa chiêng” (Tế Phan Chu Trinh-Phan Bội Châu)...

Quan điểm ấy đã chi phối lối viết, là động lực thúc đẩy người chiến sĩ cầm súng và cầm bút. Đồng thời, đó cũng là xu hướng cách mạng và tiến bộ về tư tưởng, là cương lĩnh chiến đấu, là cảm hứng đấu tranh xã hội tích cực của thi ca, được nâng cao trong thời đại cách mạng vô sản:

Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ
Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền
(Sóng Hồng)

Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong
(Hồ Chí Minh)

Cùng nêu lên một yêu cầu cơ bản và cần thiết đối với nền văn nghệ mới như các chiến sĩ cộng sản, Lê Đức Thọ kế thừa và thể hiện nhất quán quan điểm lập trường của người mang trách nhiệm “kép” nghệ sĩ – chiến sĩ:

Bút sắc đâm bao thằng cướp nước
Mực hòa với máu viết thành văn
(Thương đời chiến sĩ viết thêm hay)

Quan điểm sáng tác nêu cao mục đích chiến đấu của văn chương, vai trò chiến sĩ của người cầm bút trở thành định hướng tư tưởng trong việc chỉ đạo đường lối văn nghệ “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Là học trò xuất sắc của Hồ Chí Minh, Lê Đức Thọ thấm nhuần sâu sắc quan niệm đó. Từ nhận thức sứ mệnh văn học, người cộng sản Lê Đức Thọ nắm chắc và mài giũa thứ vũ khí văn chương để chiến đấu, phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Theo đó, nhà văn phải ở giữa cuộc đời, góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh và phát triển xã hội.

Dùng thơ văn làm vũ khí đấu tranh cách mạng được nhiều nhà chính trị vận dụng một cách tài tình. Nhưng nói như vậy, không có nghĩa bất kỳ người chiến sĩ cách mạng nào cũng có thể sáng tác được văn chương nghệ thuật, cũng có thể dùng nó làm vũ khí đấu tranh. Như Lê nin - vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản trả lời thẳng thắn khi có người gợi ý ông làm thơ: “Cứ lột da tôi, tôi cũng chịu, đến hai câu thơ cũng không làm được”. Như vậy, làm thơ phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tài năng, tư chất thiên bẩm…Không phải cứ hễ có tâm hồn dào dạt trước thiên nhiên tạo vật, yêu thích thơ văn…ắt có sản phẩm văn chương. Việc Lê Đức Thọ là tác giả của nhiều tập thơ song hành cùng sự nghiệp cách mạng, hoạt động chính trị, kể cả khi giữ những trọng trách quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, trước hết phải là do tố chất, nội lực bản thân, và sau đó là tác động của các yếu tố khác như quê hương, gia đình, bạn bè…

Nhìn vào sự nghiệp văn chương không chuyên nghiệp của Lê Đức Thọ, ta thấy sáng tác không nhiều, không liên tục, vọn vẻn một số tập thơ, nhưng “chưa bao giờ đứt đoạn với thơ”. Điều dễ nhận thấy là thơ ông giàu chất tự sự, ngồn ngộn thực tiễn cuộc sống, đầy ắp những sự kiện…Và trên hết ở ông chính là sự phong phú của một tâm hồn thi sĩ yêu văn chương; tha thiết yêu cuộc sống, con người; dày dạn trong đấu tranh cách mạng; duyên thơ vẫn đầy đặn trong sáng tác ở bất cứ thời điểm nào…

Thơ Lê Đức Thọ gắn liền với con đường từ Bắc vào Nam trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước và chiến tranh biên giới Tây Nam. Trên hành trình Bắc Nam, con đường vào tiền tuyến, những địa danh ghi dấu chân qua, những con người đã gặp… đều đi vào thơ ông chân thực, gần gũi và cảm động. Khi qua sông Nhật Lệ, trái tim nhà thơ xao động nỗi niềm nhớ mẹ Suốt – Người Mẹ đã bất chấp hiểm nguy hàng ngày chèo đò đưa bộ đội qua sông:

Chiều nay qua Nhật Lệ
Nghe sóng gió rì rào
Bâng khuâng như nhớ ngày nào
Con qua đò Mẹ, đi vào miền trong

Nhìn cảnh đây mà người xưa vắng bóng, đan xen quá khứ và hiện tại, thương cảm và tri ân cứ trào dâng khắc khoải trong lòng nhà thơ:

Đò xưa vắng bóng mẹ rồi
Nhìn sông nhớ mẹ ngậm ngùi xót xa
Quân thù đã giết mẹ ta
Một đêm mưa gió máu hòa dòng sông
Mẹ về với những chiến công
Ghi trang sử đẹp anh hùng Bảo Ninh

Không đạt kỷ lục số bài thơ viết về lãnh tụ Hồ Chí Minh như nhà thơ Tố Hữu, nhưng thơ Lê Đức Thọ viết về Người vẫn mang nét độc đáo. Năm 1967, khi đi chữa bệnh ở nước ngoài, Bác Hồ có thơ về nước gửi các đồng chí trong Bộ Chính trị. Nhân sinh nhật lần thứ 77 của Bác, nhà thơ Lê Đức Thọ làm bài thơ “Chúc thọ Bác Hồ” họa lại bài thơ Bác gửi về:

Bẩy bẩy xuân qua hẳn đã già
Tinh thần ngày một trẻ thêm ra
Non sông đáp lại lời kêu gọi
Chiến thắng xin mừng Bác ở xa

Và khi Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, trong “Trận thắng cuối cùng” – bài thơ đề tặng các đồng chí Bộ Chính trị và Trung ương Đảng, nhà thơ bồi hồi nhớ Bác và báo công với Bác trong niềm xúc động thiêng liêng:

Lời Bác dặn đã hoàn thành trọn vẹn
Giờ này đây Bác ngủ hẳn yên lòng

Cả cuộc đời gắn với hoạt động chính trị chuyên nghiệp, Lê Đức Thọ hiểu hơn ai hết sức mạnh của văn chương nghệ thuật. Giữa những ngày nước sôi lửa bỏng, căng óc đấu trí khá mệt mỏi với kẻ thù trên bàn đàm phán ở Hội nghị Paris về Việt Nam, văn hóa dân tộc đã trở thành điểm tựa vững vàng, trợ lực kỳ diệu cho nhà thơ. Vì thế, thơ ông đã giãi bày lòng mình chân thành cùng với lời đề nghị: “Mình làm cái công việc chính trị quân sự này lâu thành ra con người có vẻ như khô khan… Cậu (nhạc sĩ Xuân Oanh) dành ít thời gian nói cho nghe về lịch sử âm nhạc phương Đông và Phương Tây…” và nhà chính trị đã đúc kết như một chân lý “Chính trị mà không có văn hóa thì sẽ thành vô dụng”. Lịch sử dân tộc những năm 70 của thế kỷ trước gắn tên tuổi Lê Đức Thọ với cuộc đàm phán về hòa bình ở Việt Nam, đối mặt với Henry Kissinger, Lê Đức Thọ đã đảm nhiệm vai trò chính về phía Việt Nam trong cuộc đàm phán để ký kết Hiệp định Paris ngày 27/01/1973. Khi cuộc đàm phán mật vào hồi gay cấn nhất, cùng Xuân Thủy sang thăm đoàn Việt Nam ở Verie Lơ Buytxông, ông khẳng định thế tất thắng của ta ở trên bàn đàm phán bằng sự vận dụng sáng tạo văn hóa dân tộc. Câu thơ “tập Kiều”, mang hàm ý nhắc nhở:

Dằn lòng chờ đợi ít lâu
Chầy ra thì cũng năm sau vội gì

Một cách tự nhiên, thơ của nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp luôn thấm đẫm vẻ đẹp tâm hồn trong sáng. Ông trải lòng với mảnh đất, cảnh sắc thiên nhiên, nơi ông đã đặt chân qua, khi là địa danh, khi trên sông, lúc trong rừng… Vì thế, hơi thở cuộc sống, tiếng nói cuộc sống, sự đồng cảm với mọi kiếp người luôn tuôn chảy trong thơ:

Nhẹ như gió thoảng ngoài kia
Giọng hò mái đẩy thuyền về bến xa
Nghiêng nghiêng chiếc nón bài thơ
Xanh xanh tà áo ước mơ những gì
(Bình Trị Thiên)

Đôi bờ in bóng dừa xanh
Lưng trời cánh én tin xuân đang về
(Cửu Long)

Đặc biệt khu rừng căn cứ Lộc Ninh - Trung ương Cục miền Nam - giữa tiếng ầm vang của hàng đoàn xe tăng, xe pháo chạy ngoài đường, tiếng chuông reo của hàng chục chiếc máy điện thoại… hiện lên chân dung người chiến sĩ cộng sản lo lắng đầy trách nhiệm với đất nước, nhân dân:

Nghe chim tu hú gọi
Rừng Lộc Ninh sáng rồi
Suốt đêm qua không ngủ
Nằm đếm tiếng mưa rơi
(Mưa rơi)

Vốn nặng tình với đất nước, với anh bộ đội, chị phụ nữ, em giao liên, nghe tiếng mưa rơi, nhà thơ không ngăn được sự sốt ruột, lo lắng:

Chiến trường chờ từng phút
Đừng mưa nữa mưa ơi!
Để đường mau khô ráo
Cho xe vào tới nơi

Nếu không ở cự ly sát gần, không chung trải những gian lao, vất vả cùng các chiến sĩ, làm sao nhà thơ có thể ghi lại được những hình ảnh chân thực đến như vậy:

Võng đua đưa mắc ở mé rừng
Cùng đồng đội chờ giờ xuất kích
Gió nhè nhẹ trong đêm khuya tĩnh mịch
Muỗi vo ve, tiếng lá thổi rì rào
Rừng trong đêm lấp lánh mảnh trời sao

Qua dãy Trường Sơn, chứng kiến bụi, dốc, đá tai mèo… Lê Đức Thọ vừa chia sẻ những khó khăn, gian khổ, vừa ấm áp tình yêu thương với các chiến sĩ lái xe:

Thương mấy anh lái xe
Suốt đêm ngày lặn lội
Trường Sơn vượt mấy lần
Đã hít bao nhiêu bụi
(Bụi Trường Sơn)

Thơ ông gần với lối miêu tả hiện thực sát gần của thế hệ nhà thơ trẻ chống Mỹ:

Bụi phun tóc trắng như người già 
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha
(Tiểu đội xe không kính-Phạm Tiến Duật)

Gặp cơn mưa rừng, nhà thơ chạnh lòng xa xót. Nỗi lo cứ dày thêm:

Lo cho anh bộ đội
Lầy lội quãng đường dài
Hết tăng rồi lại pháo
Mong chẳng thấy tăm hơi
(Mưa rơi)

Tin tưởng vào tương lai, qua bài thơ “Người chiến sĩ cuối cùng”, nhà chính trị Lê Đức Thọ đã “tiên đoán” điều “dự cảm”:

Loạt đạn cuối cùng này chấm hết những đau thương

Bởi lẽ:

Qua năm tháng hành quân ra trận
Tất cả dồn vào trận đánh hôm nay
Giải phóng miền Nam mong đợi từng ngày
Đời bộ đội ước mơ nào hơn thế
(Người chiến sĩ cuối cùng)

Thơ Lê Đức Thọ thể hiện chuỗi suy nghĩ sâu sắc và tình cảm chân thành của một nhà tư tưởng, nhà hoạt động chính trị, nhà ngoại giao giàu bản lĩnh, một con người thông minh tài trí ứng biến linh hoạt trong những cuộc đấu trí với kẻ thù.

Thơ Lê Đức Thọ ở bất kỳ giai đoạn nào cũng nặng tình non nước, nặng nghĩa với đồng chí, đồng bào, thủy chung với Đảng, với cách mạng và đồng cảm với các chiến sĩ… Người đọc cảm phục vì trong những vần thơ như có cánh, vẫn có một góc dành riêng cho những người đã hy sinh vì đất nước. Trên đường ra tiền tuyến, đi qua những cánh rừng, nơi có những nấm mồ của các chiến sĩ vô danh, ông xúc động thốt lên:

Giữa rừng nắm đất còn tươi
Mồ ai mưa gió, ai người viếng thăm
Anh vui giấc ngủ ngàn năm
Thương anh ngày tháng hờn căm chất chồng
Anh nằm dưới đó nghe không
Hôm nay bom đạn nổ tung Sài Thành
Ngày vui Tổ quốc nhớ anh
Chiến công này có công anh góp phần
(Mồ chiến sĩ không tên)

Đến với “Khúc ruột miền Trung”, ông nhớ đến những người đã ngã xuống nơi đây, nhớ đến mẹ Suốt anh hùng và trong sâu thẳm của tâm hồn, ông bày tỏ nỗi niềm “Nhớ mẹ”:

Giữa làn bom đạn xông pha
Thương con, thương nước thiết tha cháy lòng

Như đã nói, thơ ông giàu tính sự kiện. Mười bảy bài thơ trong tập “Nhật ký đường ra tiền tuyến” tạo sự liền mạch giữa hiện thực đời sống ngồn ngộn với cảm hứng thơ reo vui. Mỗi bài thơ đều bắt nguồn từ một chi tiết, sự kiện thực mang cảm hứng sử thi. Hội nghị Bộ Chính trị vừa bế mạc thì ngày 9/01/1975 Thường vụ Quân ủy Trung ương họp, các đồng chí Võ Chí Công, Chu Huy Mân, Hoàng Minh Thảo, Lê Trọng Tấn được mời đến quán triệt và triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị. Đồng chí Lê Đức Thọ dự họp và tham gia ý kiến “Phải đặt vấn đề dứt khoát là giải phóng Buôn Ma Thuột. Ta có gần 5 sư đoàn ở Tây Nguyên mà không đánh được Buôn Ma Thuột là thế nào”. Theo sự phân công của Bộ Chính trị, Lê Đức Thọ rời Hà Nội vào Nam trong tâm trạng vui mừng, phấn khởi như đi trảy hội. Đêm đầu tiên dừng chân ở Đồng Hới (Quảng Bình), ông đã làm thơ tặng đồng chí Lê Duẩn Lê Đức Thọ ngày 18-3-1975 tặng đồng chí Lê Duẩn – Tổng Bí thư Trung ương Đảng. :

Anh dặn: ra đi thắng mới về
Phút giây cảm động nói năng chi
Lời Anh là cả lời non nước
Ngàn dặm Trường Sơn há ngại gì
Đường vào tiền tuyến lắm tin vui
Thắng trận reo mừng khắp mọi nơi
Giục giã đường xa mau kịp bước
Thời cơ thuận lợi tới nơi rồi
(Lời anh dặn)

Ý chí, quyết tâm giành chiến thắng được thể hiện:

Phen này quét hết quân xâm lược
Bắt bọn tay sai phải cúi đầu

Chiến thắng tạo cảm hứng lớn cho các nhà thơ – chiến sĩ. Ngày 01/5/1975, bài thơ “Trận thắng cuối cùng” ra đời tại Tân Sơn Nhất, đề tặng các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngay sau đó, ngày 9/5/1975, bài thơ được đăng trang trọng trên Báo Nhân dân:

Tôi biết lắm: đêm qua anh không ngủ 
Trận cuối cùng, súng nổ sáng hôm nay 
Anh trông chờ từng phút từng giây 
Theo nhịp bước của miền Nam đang xốc tới.
..

Lời kêu gọi của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và lệnh động viên của Bộ Chỉ huy chiến dịch cổ vũ, giục giã mọi người vào trận đánh mới với một quyết tâm rất cao:

Quyết xây dựng lại tương lai đất nước
Cho Tổ quốc ta giàu đẹp gấp ngàn lần
Không còn những đói khổ gian truân
Tình ruột thịt Bắc Nam một nhà sum họp

Bài thơ “Họa thơ Bà Huyện Thanh Quan” làm theo thể đường luật, họa lại nguyên văn bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ có thấy khẩu khí Đường thi hào sảng, họa vần đắc ý. Bà Huyện xưa kia trong trạng thái cô đơn, hoài cổ, man mác tình non sông “Ta với ta”, thì bài thơ họa mang cảm xúc ngược lại. Nó như tiếng kèn xuất quân, là niềm vui và sum họp “Nam Bắc sum vầy ta gặp ta”. Cảm xúc mới của bài thơ là khát vọng thống nhất đất nước:

Quân vượt đèo Ngang quyết diệt tà
Chiến công nối tiếp nở như hoa
Bom rơi chật đất thù muôn thuở
Máu đổ tràn sông hận mỗi nhà
Đã quyết hy sinh cho đất nước 
Quản gì nát thịt với tan da
Ngày vui thống nhất không xa nữa
Nam Bắc sum vầy ta gặp ta

Điều dễ nhận thấy sáng tác của Lê Đức Thọ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là niềm ao ước, nỗi đau đáu ước nguyện thống nhất hai miền Nam Bắc. Vì thế, miền Nam là chủ đề luôn da diết trong tâm trí nhà thơ:

-Miền Nam hỡi nhớ thương tha thiết lắm
- Tôi sẽ trở về Nam
Giữa một mùa xuân thắm
(Xuân về với những niềm tin)

Từ hiện thực cuộc sống có những bài thơ mang cảm hứng liên tưởng, giàu tính khái quát, triết lý:

Con đường đã đưa ta đi đánh Mỹ
Để cho đời một khúc anh hùng ca
(Đường với xe)

Đường cách mạng là đường dài vô tận
Đầy chông gai nhưng cũng đầy cỏ lạ hoa thơm

Con đường cụ thể đã trở thành con đường của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, con đường mà cả dân tộc ta đã thống nhất lựa chọn.

Trên đường ra tiền tuyến, nhà thơ ghi chép thật tỉ mỉ các sự kiện. Sự quan sát đã giúp nhà thơ nâng tầm suy nghĩ. Bài thơ “Đài kỷ niệm” làm trong cái nhìn châm biếm kẻ thù xưa và nay: “Xe tăng Mỹ tan xác-Đồn giặc Pháp rêu phong”. Sự tài tình chính là việc nhà thơ sắp xếp cụm từ “khen ai khéo” gợi nên từ những chi tiết trong thơ mà của Bà Chúa thơ Nôm hay dùng, như: “khen ai khéo khéo”, “khéo khéo đi đâu”, “khéo khéo bày trò”, “kìa ai khéo khéo nhòm”, “khen ai đẽo đá”, “khen ai khéo tạc”…thể hiện cái nhìn châm biếm hai kẻ thù chôn trong một nấm mồ chung: “Khen ai khép xếp đặt-Lập một đài chiến côngCả hai tên xâm lược-Chôn một nấm mồ chung”.

Tuy không phải là người chuyên làm thơ, nhưng những sáng tác của Lê Đức Thọ vừa giàu chất thực tế, có tính thời sự và chứa chan tình cảm cách mạng, yêu đời, yêu người. Trong nhiều bài thơ, chùm thơ ẩn chứa tình cảm, suy nghĩ sâu sắc và chân thành của một nhà tư tưởng, một nhà hoạt động chính trị tài năng, nhà ngoại giao bản lĩnh, một chiến sĩ cộng sản kiên trung từng vào sinh ra tử.

Trong cuộc đời hoạt động chính trị, nhà thơ Lê Đức Thọ đã đem hết tâm sức, tài năng, trí tuệ của mình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và của dân tộc. Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Đức Thọ là tấm gương sáng về truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Cũng vì làm cách mạng mà ông đến với thơ. Đến với thơ là để tìm tiếng nói tâm tình. Thơ và sự nghiệp của Đảng luôn xoắn bện chặt chẽ, hài hòa trong một con người như sự lý giải của ông về thơ:

Bộ đội bây giờ muôn vẻ mới
Thương đời chiến sĩ viết thêm hay.

Nguồn: tuyengiao.vn

Đã xem 30968 lần ,cập nhật lúc 24/10/2011 4:29:09 CH
Video
Thời tiết

   Gía vàng 9999
Mua vào
Bán ra
   Tỷ giá
Dịch vụ Du lịch